Ly hôn khi vợ đang mang thai: Quy định pháp luật mới nhất

75 Lượt xem

Việc ly hôn khi người vợ đang mang thai là vấn đề nhạy cảm và phức tạp. Pháp luật Việt Nam có những quy định đặc thù để bảo vệ phụ nữ mang thai và trẻ em, đồng thời vẫn đảm bảo quyền yêu cầu ly hôn của từng bên trong hôn nhân. Bài viết dưới đây tổng hợp đầy đủ các quy định hiện hành và giải thích rõ ràng để bạn dễ dàng nắm bắt.

Vậy theo quy định pháp luật hiện hành Chồng có quyền yêu cầu ly hôn khi vợ đang mang thai không?

  • KHÔNG.

Theo Khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong các trường hợp:

Vợ đang mang thai

Vợ sinh con

Vợ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi

  • Như vậy: Tại thời điểm vợ đang mang thai thì quyền yêu cầu ly hôn của người chồng đã bị hạn chế. Do đó khi có yêu cầu đơn phương ly hôn thì Tòa án sẽ không thụ lý giải quyết.

Nội dung khoản 3 Điều 51 nêu trên được hướng dẫn cụ thể tại Điều 2 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dân áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình (Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP).

Khoản 4 Điều 2 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP quy định: “4. Trường hợp vợ đang có thai, sinh con thì chồng không có quyền yêu cầu ly hôn mà không phân biệt vợ có thai, sinh con với ai.”.

Nội dung điều khoản này xác định cụ thể trường hợp người chồng không được quyền yêu cầu giải quyết ly hôn khi người vợ đang có thai, sinh con mà không phân biệt người vợ có thai, sinh con với người khác mà không phải con của người chồng. Chế định này được xây dựng trên cơ sở bảo đảm quyền lợi tốt nhất cho người vợ và con nhỏ vì đây được xem là những chủ thể yếu thế, cần được chăm sóc, bảo vệ, nhất là trong thời kỳ mang thai và sinh con.

Nghiên cứu quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình thì thấy, quy định hạn chế quyền yêu cầu giải quyết việc ly hôn của người chồng trong trường hợp người vợ mang thai, sinh con mà không phân biệt là mang thai, sinh con của ai không phải là quy định mới mà trước đó đã được ghi nhận, tuy nhiên, chưa cụ thể như quy định hiện hành.

Khoản 2 Điều 85 Luật HNGĐ năm 2000 quy định: “Trong trường hợp vợ có thai hoặc đang nuôi con dưới mười hai tháng tuổi thì chồng không có quyền yêu cầu xin ly hôn.”.

Để áp dụng thống nhất quy định này, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 hướng dẫn cáp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Tại mục 6 Nghị quyết này quy định như sau: “6. Quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn (Điều 85)

Theo quy định tại Điều 85 thì vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn. Tuy nhiên, người chồng không có quyền yêu cầu xin ly hôn khi vợ đang có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Luật chỉ quy định “vợ đang có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi”; do đó, khi người vợ đang thuộc một trong các trường hợp này (không phân biệt người vợ có thai với ai hoặc bố của đứa trẻ dưới 12 tháng tuổi là ai), mà người chồng có yêu cầu xin ly hôn, thì giải quyết như sau:

  1. Trong trường hợp chưa thụ lý vụ án thì Toà án áp dụng điểm 1 Điều 36 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự trả lại đơn kiện cho người nộp đơn.
  2. Trong trường hợp đã thụ lý vụ án thì Toà án cần giải thích cho người nộp đơn biết là họ chưa có quyền yêu cầu xin ly hôn. Nếu người nộp đơn rút đơn yêu cầu xin ly hôn thì Toà án áp dụng điểm 2 Điều 46 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án. Nếu người nộp đơn không rút đơn yêu cầu xin ly hôn thì Toà án tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung và quyết định bác yêu cầu xin ly hôn của họ.”.

Như vậy, Nghị quyết này cũng xác định rõ, việc hạn chế quyền yêu cầu giải quyết ly hôn của người chồng khi người vợ đang có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi không phân biệt người vợ có thai với ai hoặc bố của đứa trẻ dưới 12 tháng tuổi là ai.

Tuy nhiên, đến khi Luật HNGĐ năm 2014 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2014 cũng không ghi nhận nội dung cụ thể này mà chỉ ghi nhận người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi mà không quy định cụ thể trường hợp vợ mang thai, sinh con với người khác thì người chồng có được quyền yêu cầu ly hôn hay không.

Đây là lý do Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP để hướng dẫn cụ thể về trường hợp vợ đang có thai, sinh con thì chồng không có quyền yêu cầu ly hôn mà không phân biệt vợ có thai, sinh con với ai.

Như vậy, quy định về việc chồng không được quyền yêu cầu ly hôn khi vợ đang mang thai, sinh con bất kể mang thai, sinh con với ai, tiếp tục được áp dụng như trước đây. Nếu muốn ly hôn, người chồng bắt buộc phải chờ hết thời gian theo quy định. giúp mình liên kết, lồng ghép các nội dung này vào

 

Vợ đang mang thai có quyền yêu cầu ly hôn không?

  • CÓ.

Khác với người chồng, pháp luật không hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người vợ trong thời gian mang thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Quy định này thể hiện rõ nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ – đặc biệt là phụ nữ đang mang thai, là đối tượng dễ bị tổn thương cả về thể chất lẫn tinh thần.

Theo Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, khi một bên vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn đơn phương mà có căn cứ cho thấy tình trạng hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, thì Tòa án có thể chấp nhận yêu cầu ly hôn.

Trên thực tế, người vợ đang mang thai vẫn có quyền đơn phương yêu cầu ly hôn nếu chứng minh được các căn cứ như: bị bạo lực gia đình; chồng có hành vi ngoại tình, xúc phạm nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm; không còn khả năng chung sống hoặc mâu thuẫn hôn nhân đã rạn nứt, không thể hàn gắn. Trong các trường hợp này, Tòa án vẫn thụ lý và giải quyết theo trình tự, thủ tục chung.

Như vậy, quy định hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng khi vợ đang mang thai không đồng nghĩa với việc tước bỏ quyền yêu cầu ly hôn của người vợ. Pháp luật đặt trọng tâm vào việc bảo vệ phụ nữ mang thai và trẻ em, đồng thời vẫn bảo đảm quyền tự do hôn nhân, quyền tự quyết của người vợ khi hôn nhân thực sự không thể duy trì.

Bài viết liên quan