Hành vi đe dọa người khác qua phương tiện điện tử: Quy định pháp luật và chế tài xử lý

28 Lượt xem

Hiện nay, hành vi nhắn tin, gọi điện đe dọa người khác diễn ra khá phổ biến, đặc biệt trên các nền tảng mạng xã hội. Những hành vi này không chỉ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tâm lý nạn nhân mà còn có thể bị xử phạt theo quy định của pháp luật.

Vậy tội đe dọa người khác là gì? Bị đe dọa qua điện thoại phải làm sao? Và người vi phạm sẽ bị xử lý như thế nào?

Tội đe dọa người khác là gì?

Có thể hiểu đe dọa là hành vi uy hiếp tinh thần người khác qua việc thông báo trước bằng những cách khác nhau sẽ làm hoặc không làm việc bất lợi cho họ hoặc cho người thân thích của họ nếu không thỏa mãn các đòi hỏi nhất định.

Thêm vào đó danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ theo Điều 34 Bộ luật Dân sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Vậy, tội đe dọa người khác bằng điện thoại là việc cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác. 

Hành vi nhắn tin, gọi điện đe dọa người khác có nhiều mục đích khác nhau căn cứ tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)có thể kể đến như: 

– Xúc phạm danh dự nhân phẩm của người khác theo Điều 155 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

– Đe dọa giết người căn cứ tại Điều 133 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

– Đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản theo Điều 170 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

– Nhắn tin đe dọa nhằm mục đích ép buộc quan hệ trái ý muốn của người khác được nêu rõ tại Điều 143 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Như vậy, đe dọa qua điện thoại là hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Mọi hành vi xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác đều sẽ chịu sự điều chỉnh của pháp luật. 

2. Làm gì khi bị người khác nhắn tin đe dọa?

Trong trường hợp bị nhắn tin đe dọa, để bảo đảm sự an toàn cho chính mình và người thân; công dân có thể tố cáo hành vi của người gửi tin nhắn đến cơ quan điều tra công an cấp xã hoặc cấp huyện theo khoản 1 Điều 7 Thông tư 28/2020/TT-BCA.

Theo đó, công an cấp xã sẽ tiếp nhận, phân loại và xử lý tin báo, tố giác về tội phạm. Sau đó sẽ chuyển hồ sơ lên cơ quan điều tra cấp huyện, cơ quan điều tra quân sự khu vực điều tra các vụ án hình sự hoặc cơ quan điều tra cấp tỉnh tùy vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội (căn cứ Điều 163 Bộ luật Tố tụng hình sự).

Theo đó, hồ sơ để tố cáo gồm:

– Đơn tố cáo.

– Chứng minh nhân dân hoặc Căn cước công dân hoặc hộ chiếu còn hạn của người tố cáo.

– Chứng cứ kèm theo để chứng minh cho việc tố cáo của mình về hành vi phạm tội gồm các tin nhắn đe dọa, và các chứng cứ liên quan khác để Cơ quan điều tra có thêm thông tin khi giải quyết vụ việc

Việc tố cáo kịp thời giúp bảo vệ an toàn cho bản thân và người thân, đồng thời ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật.

Tội đe dọa người khác qua điện thoại bị truy cứu trách nhiệm hình sự như nào?

1. Xử phạt hành chính

Hành vi nhắn tin đe doạ người khác, có thể là đe doạ giết người, đe dọa tung ảnh nóng, đe dọa đánh người… không hề hiếm gặp trong xã hội ngày nay đặc biệt khi mạng xã hội và công nghệ thông tin ngày một phát triển.

Tùy vào mục đích của hành vi đe dọa khi nhắn tin cho người khác, người vi phạm có thể bị xử phạt hành chính. Cụ thể:

– Nhắn tin đe dọa nhằm bôi nhọ nhân phẩm, danh dự của người khác: Bị phạt tiền từ 10 – 20 triệu đồng về hành vi sử dụng điện thoại nhằm xuyên tạc, vu khống, quấy rối, xúc phạm uy tín, danh dự, nhân phẩm của người khác theo điểm g khoản 3 Điều 102 Nghị định 15/2020/NĐ-CP.

– Nhắn tin đe doạ xâm phạm sức khoẻ của người khác: Bị phạt tiền từ 10 – 20 triệu đồng về hành vi sử dụng điện thoại nhằm đe dọa, quấy rối người khác theo điểm g khoản 3 Điều 102 Nghị định 15/2020/NĐ-CP.

– Nhắn tin đe dọa nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự: Bị phạt tiền từ 02 – 03 triệu đồng theo điểm c khoản 1 Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP.

Như vậy, tùy vào mục đích của việc nhắn tin đe dọa mà người vi phạm sẽ phải chịu mức xử phạt vi phạm hành chính như trên.

2. Chịu trách nhiệm hình sự

Hành vi nhắn tin, gọi điện đe dọa người khác có thể nhằm nhiều mục đích khác nhau, tùy từng trường hợp sẽ bị xử lý theo các tội danh sau:

 (1) Tội làm nhục người khác – Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Trường hợp người phạm tội nhắn tin, gọi điện với nội dung xúc phạm nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội làm nhục người khác.

Theo khoản 1 Điều 155 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), người phạm tội có thể bị:

  • Phạt cảnh cáo;
  • Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng;
  • Hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

Trường hợp phạm tội có tình tiết tăng nặng, người phạm tội có thể bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

(2) Tội cưỡng dâm – Điều 143 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Nếu người phạm tội sử dụng tin nhắn, cuộc gọi để đe dọa, uy hiếp tinh thần nhằm ép buộc người khác quan hệ tình dục trái với ý muốn của họ thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội cưỡng dâm.

Theo Điều 143 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tùy vào mức độ phạm tội, người phạm tội có thể bị:

  • Phạt tù từ 01 năm đến 05 năm; hoặc từ 03 năm đến 10 năm. Nếu nghiêm trọng hơn thì bị phạt từ từ 10 năm đến 18 năm.
  • Trường hợp có tình tiết tăng nặng, mức phạt có thể lên đến chung thân.

(3) Tội đe doạ giết người – Điều 133 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Hành vi nhắn tin, gọi điện có nội dung đe dọa sẽ tước đoạt tính mạng của người khác hoặc người thân thích của họ, nếu có căn cứ cho thấy việc đe dọa đó là có thật và làm cho người bị đe dọa lo sợ, thì có thể cấu thành Tội đe doạ giết người.

Theo Điều 133 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), người phạm tội có thể bị:

  • Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng  đến 03 năm;
  • Trường hợp phạm tội có tình tiết nghiêm trọng, mức phạt có thể từ 02 năm lên đến 07 năm tù.

(4) Tội cưỡng đoạt tài sản – Điều 170 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Trường hợp người phạm tội nhắn tin, gọi điện đe dọa nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác (đe dọa tung clip, đe dọa gây hại, uy hiếp tinh thần để buộc đưa tiền, tài sản) thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội cưỡng đoạt tài sản.

Theo Điều 170 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), người phạm tội có thể bị:

  • Phạt từ từ 01 năm đến 05 năm nếu có dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác;
  • Phạt tù từ 03 năm đến 10 năm;
  • Trường hợp phạm tội có tổ chức, số tiền lớn hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, mức phạt có thể lên đến 20 năm tù.

Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị:

  • Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng;
  • Hoặc bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Như vậy, dựa vào từng mục đích cụ thể của việc đe dọa cụ thể mà áp dụng chế tài của khung hình phạt nào với tội phạm tương ứng theo quy định của pháp luật hiện hành. Mức phạt tù cao nhất là chung thân với tội đe dọa người khác nhằm mục đích ép buộc quan hệ trái ý muốn của người .

Kết luận

Hành vi đe dọa người khác qua phương tiện điện tử không chỉ xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín mà còn có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tâm lý, sức khỏe và sự an toàn của người bị đe dọa. Tùy vào mục đích, tính chất và mức độ vi phạm, người thực hiện hành vi này có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bị nhắn tin, gọi điện hoặc sử dụng các phương tiện điện tử để đe dọa, người bị hại cần chủ động thu thập chứng cứ, trình báo kịp thời với cơ quan có thẩm quyền để được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Việc xử lý nghiêm các hành vi đe dọa không chỉ nhằm răn đe, phòng ngừa vi phạm mà còn góp phần xây dựng môi trường mạng an toàn, văn minh và tôn trọng pháp luật.

Bài viết liên quan