Trong thực tiễn, không ít trường hợp người không trực tiếp thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nhưng lại có vai trò xúi giục, kích động, thúc đẩy người khác thực hiện hành vi đó. Vậy theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam, hành vi xúi giục, kích động người khác phạm tội được hiểu như thế nào và bị xử lý ra sao?
Ví dụ: A biết rõ mảnh đất đang có tranh chấp và chưa được cơ quan có thẩm quyền giải quyết, nhưng vẫn nhiều lần kích động, thúc giục B đến đào đất, cắm cọc, dựng hàng rào với lời nói như: “Cứ làm đi, có gì tôi chịu trách nhiệm”.
Sau đó, B thực hiện hành vi lấn chiếm đất trái phép và bị xử lý hình sự. Trong trường hợp này, mặc dù A không trực tiếp thực hiện hành vi xâm phạm, nhưng do có hành vi xúi giục, thúc đẩy nên A vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự với vai trò là đồng phạm – người xúi giục.
1. Khái niệm về hành vi xúi giục người khác phạm tội

Xúi giục phạm tội là hành vi cố ý tác động đến người khác nhằm làm cho họ nảy sinh ý định phạm tội hoặc thúc đẩy họ thực hiện hành vi phạm tội đã có ý định từ trước.
Theo khoản 3 Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), người xúi giục là một trong các chủ thể của đồng phạm, được xác định là:
“Người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.”
Hành vi xúi giục có thể được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau như: kích động tinh thần, lôi kéo, dụ dỗ bằng lợi ích vật chất hoặc tinh thần, gây áp lực, thậm chí cưỡng ép người khác thực hiện hành vi phạm tội.
2. Các dấu hiệu pháp lý của hành vi xúi giục phạm tội
Để xác định một hành vi có phải là xúi giục phạm tội hay không, cần xem xét đầy đủ hai yếu tố: mặt chủ quan và mặt khách quan.
Về mặt chủ quan
Người xúi giục phải có ý thức chủ động và mong muốn người khác thực hiện hành vi phạm tội. Họ nhận thức được tính chất nguy hiểm của hành vi và có chủ đích tác động nhằm thúc đẩy việc phạm tội xảy ra.
Về mặt khách quan
Hành vi xúi giục thể hiện ra bên ngoài bằng các hành vi cụ thể như:
– Kích động: Làm cho người khác nảy sinh ý định phạm tội hoặc làm họ quyết tâm, hăng hái hơn trong việc thực hiện tội phạm.
– Dụ dỗ: Dùng lời lẽ ngon ngọt, hứa hẹn lợi ích vật chất hoặc tinh thần để lôi kéo người khác phạm tội.
– Thúc đẩy: Tạo động lực, gây áp lực hoặc tạo điều kiện để người khác nhanh chóng thực hiện hành vi phạm tội.
Các hành vi này phải có mối liên hệ trực tiếp với việc người bị xúi giục thực hiện hoặc chuẩn bị thực hiện tội phạm.
3. Xúi giục phạm tội trong mối quan hệ đồng phạm
Theo Điều 17 Bộ luật Hình sự, đồng phạm là trường hợp có từ hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm, trong đó bao gồm: người tổ chức, người thực hành, người xúi giục và người giúp sức.
Người xúi giục không trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, nhưng vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành và thúc đẩy hành vi phạm tội của người khác. Do đó:
– Nếu hành vi xúi giục dẫn đến việc tội phạm được thực hiện, người xúi giục phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò là đồng phạm đối với tội phạm đã xúi giục.
–Trường hợp người bị xúi giục không thực hiện tội phạm, việc xem xét trách nhiệm hình sự sẽ phụ thuộc vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi xúi giục và các quy định cụ thể của pháp luật.
Ngoài ra, người xúi giục không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi vượt quá của người thực hành nếu hành vi đó nằm ngoài ý chí và sự thúc đẩy ban đầu.
4. Trách nhiệm pháp lý đối với hành vi xúi giục, kích động người khác vi phạm pháp luật
Tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm và hậu quả xảy ra, hành vi xúi giục, kích động người khác vi phạm pháp luật có thể:
– Bị xử phạt hành chính, nếu chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm;
– Bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu hành vi xúi giục thỏa mãn các dấu hiệu của đồng phạm và dẫn đến việc thực hiện tội phạm.
Như vậy, pháp luật hình sự Việt Nam không chỉ xử lý người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, mà còn xử lý nghiêm đối với những người đóng vai trò xúi giục, kích động, nhằm đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.


