Kinh doanh Online qua mạng xã hội có phải đăng ký kinh doanh không? Người bán hàng Online cần lưu ý điều gì?

46 Lượt xem

Hiện nay, việc kinh doanh online qua các nền tảng mạng xã hội như Facebook, TikTok, Instagram… ngày càng phổ biến. Tuy nhiên, không ít cá nhân băn khoăn bán hàng online có bắt buộc phải đăng ký kinh doanh hay không, và nếu không đăng ký thì có vi phạm pháp luật không. Bài viết dưới đây sẽ làm rõ vấn đề này theo quy định pháp luật hiện hành.

Những trường hợp không phải đăng ký kinh doanh

Căn cứ Điều 3 Nghị định 39/2007/NĐ-CP, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên nhưng không thuộc đối tượng phải đăng ký kinh doanh bao gồm các hoạt động như:

“1. Cá nhân hoạt động th­ương mại là cá nhân tự mình hàng ngày thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động đ­ược pháp luật cho phép về mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác như­ng không thuộc đối t­ượng phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật về đăng ký kinh doanh và không gọi là “th­ương nhân” theo quy định của Luật Thương mại. Cụ thể bao gồm những cá nhân thực hiện các hoạt động th­ương mại sau đây:

a) Buôn bán rong (buôn bán dạo) là các hoạt động mua, bán không có địa điểm cố định (mua rong, bán rong hoặc vừa mua rong vừa bán rong), bao gồm cả việc nhận sách báo, tạp chí, văn hóa phẩm của các th­ương nhân đ­ược phép kinh doanh các sản phẩm này theo quy định của pháp luật để bán rong;

b) Buôn bán vặt là hoạt động mua bán những vật dụng nhỏ lẻ có hoặc không có địa điểm cố định;

c) Bán quà vặt là hoạt động bán quà bánh, đồ ăn, n­ước uống (hàng nước) có hoặc không có địa điểm cố định;

d) Buôn chuyến là hoạt động mua hàng hóa từ nơi khác về theo từng chuyến để bán cho người mua buôn hoặc ng­ười bán lẻ;

đ) Thực hiện các dịch vụ: đánh giày, bán vé số, chữa khóa, sửa chữa xe, trông giữ xe, rửa xe, cắt tóc, vẽ tranh, chụp ảnh và các dịch vụ khác có hoặc không có địa điểm cố định;

e) Các hoạt động thương mại một cách độc lập, th­ường xuyên không phải đăng ký kinh doanh khác.

2. Kinh doanh l­ưu động là các hoạt động thương mại không có địa điểm cố định.”

Ngoài ra, căn cứ khoản 2 Điều 79 Nghị định 01/2021/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp :

“2. Hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, kinh doanh thời vụ, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký hộ kinh doanh, trừ trường hợp kinh doanh các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định mức thu nhập thấp áp dụng trên phạm vi địa phương.”

 

Như vậy, việc có phải đăng ký kinh doanh hay không còn phụ thuộc vào tính chất hoạt động và mức thu nhập thực tế của người bán.

Kinh doanh online qua mạng xã hội có phải đăng ký kinh doanh không?

Theo khoản 1 Điều 55 Nghị định 52/2013/NĐ-CP, thương nhân, tổ chức thiết lập website thương mại điện tử để bán hàng hoặc cung ứng dịch vụ thì bắt buộc phải đăng ký với Bộ Công Thương.

Tuy nhiên, cần phân biệt rõ:

  • Trường hợp phải đăng ký kinh doanh:
    • Cá nhân, tổ chức bán hàng online có cửa hàng, kho hàng, địa điểm kinh doanh cố định
    • Hoạt động bán hàng thường xuyên, liên tục
    • Có thiết lập website thương mại điện tử riêng
    • Có dấu hiệu tổ chức kinh doanh chuyên nghiệp
  • Trường hợp không phải đăng ký kinh doanh:
    • Cá nhân bán hàng online tự phát, không có cửa hàng
    • Bán hàng trực tiếp trên nền tảng mạng xã hội như Facebook, TikTok
    • Hoạt động mang tính cá nhân, quy mô nhỏ

Trong trường hợp này, cá nhân bán hàng online trên mạng xã hội có thể được xem là cá nhân hoạt động thương mại, không bắt buộc đăng ký kinh doanh với Bộ Công Thương.

Một số trường hợp thường bị yêu cầu đăng ký kinh doanh

Trên thực tế, cơ quan quản lý thường xem xét yêu cầu đăng ký kinh doanh nếu hoạt động bán hàng online có các dấu hiệu sau:

  • Có doanh thu vượt ngưỡng chịu thuế: Theo quy định hiện hành của cơ quan thuế, cá nhân có doanh thu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh từ 100 triệu đồng/năm trở lên phải nộp thuế. Mặc dù đây là ngưỡng tính thuế thu nhập cá nhân, nhưng nó cũng thường là một yếu tố để các cơ quan quản lý xem xét tính chất “kinh doanh” của hoạt động.
  • Hoạt động thường xuyên, liên tục: Việc đăng bài bán hàng, giao dịch, vận chuyển hàng hóa diễn ra đều đặn, không phải ngẫu nhiên hay chỉ mang tính chất thanh lý đồ dùng cá nhân.
  • Có thuê mướn lao động: Nếu bạn có thuê từ một lao động trở lên để hỗ trợ công việc bán hàng online, đây là một dấu hiệu rõ ràng cho thấy hoạt động của bạn đã vượt ra khỏi phạm vi cá nhân, tự phát.
  • Sử dụng địa điểm kinh doanh cố định: Dù bán hàng online, nhưng nếu bạn có kho hàng, văn phòng hoặc một địa điểm cụ thể để lưu trữ, đóng gói sản phẩm, đây cũng là căn cứ để yêu cầu đăng ký.

Trách nhiệm của người kinh doanh online trên mạng xã hội

Căn cứ Điều 37 Nghị định 52/2013/NĐ-CP quy định về trách nhiệm của người bán trên sàn giao dịch thương mại điện tử:

    “1. Cung cấp đầy đủ và chính xác các thông tin quy định tại Điều 29 Nghị định này cho thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ sàn giao dịch thương mại điện tử khi đăng ký sử dụng dịch vụ.

  1. Cung cấp đầy đủ thông tin về hàng hóa, dịch vụ theo quy định từ Điều 30 đến Điều 34 Nghị định này khi bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ trên sàn giao dịch thương mại điện tử.
  2. Đảm bảo tính chính xác, trung thực của thông tin về hàng hóa, dịch vụ cung cấp trên sàn giao dịch thương mại điện tử.
  3. Thực hiện các quy định tại Mục 2 Chương II Nghị định này khi ứng dụng chức năng đặt hàng trực tuyến trên sàn giao dịch thương mại điện tử.
  4. Cung cấp thông tin về tình hình kinh doanh của mình khi có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để phục vụ hoạt động thống kê thương mại điện tử.
  5. Tuân thủ quy định của pháp luật về thanh toán, quảng cáo, khuyến mại, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và các quy định của pháp luật có liên quan khác khi bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ trên sàn giao dịch thương mại điện tử.
  6. Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật.”

Theo đó người kinh doanh online trên mạng xã hội có trách nhiệm liên quan đến cung cấp những thông tin liên quan đến hàng hóa, dịch vụ, tình hình kinh doanh,… cũng như phải tuân thủ các quy định của pháp luật về thanh toán, quảng cáo, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng,… và đặc biệt là phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ về thuế.

Kết luận

Kinh doanh online qua mạng xã hội không bắt buộc phải đăng ký kinh doanh nếu chỉ mang tính cá nhân, tự phát, không có cửa hàng và quy mô nhỏ. Tuy nhiên, người kinh doanh online vẫn cần ý thức đầy đủ trách nhiệm pháp lý, đặc biệt là nghĩa vụ thuế, tính minh bạch thông tin và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng để tránh các rủi ro pháp lý phát sinh.

 

Bài viết liên quan